Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2016

Bức tranh ngân hàng Việt Nam 10 năm qua: Bất ổn tự tạo!

Tác giả Nguyễn Xuân Thành, Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright, gần đây đã công bố một bản thảo báo cáo với tựa đề: “Ngân hàng thương mại Việt Nam: Từ những thay đổi về luật và chính sách giai đoạn 2006-2010 đến các sự kiện tái cơ cấu giai đoạn 2011-2015”.
Đây là một báo cáo được soạn thảo rất công phu, đầy ắp sự kiện và dữ liệu, được sắp xếp hợp lý theo trình tự thời gian và mạch chủ đề. Trong phần lớn báo cáo, tác giả đã tập trung mô tả chi tiết và sống động toàn bộ bức tranh của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong 10 năm qua, đồng thời khéo léo gửi gắm những phân tích và nhận định riêng của mình vào trong những câu hỏi bỏ ngỏ ở phần đầu mỗi chương, mỗi phần của bài viết, mà hầu như đã được trả lời hộ bởi tác giả, căn cứ theo cách đặt và nội dung của câu hỏi.
Tuy vậy, một trong những nhược điểm trong phương pháp phân tích bằng cách đặt ra những câu hỏi bỏ ngỏ cho từng vấn đề ở từng chương như của tác giả là nó đã vô tình bẻ gãy tính liên kết giữa các chương, các phần, các nội dung trong bài, làm người đọc khó xâu chuỗi được các sự kiện và hiểu rõ được những vấn đề có tính khái quát hơn, chẳng hạn điều gì đã tạo ra, đã dẫn đến một hệ thống ngân hàng như hiện nay, và cần làm gì để tránh “vết xe đổ” trong quá khứ?
Do bất cập trong thanh tra, giám sát và xử lý vấn đề
Trong bài này, người viết sẽ bổ sung thêm một số luận điểm và phân tích dựa theo các vấn đề mà tác giả đặt ra để đi đến một số khái quát hóa về hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua và những năm sắp tới.
Vấn đề đầu tiên mà tác giả đặt ra là việc cho phép thành lập các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) nông thôn quy mô nhỏ thành NHTMCP đô thị hoạt động trên phạm vi toàn quốc là chính sách đúng để thúc đẩy phát triển tài chính hay là nguyên nhân dẫn tới tình trạng nhiều ngân hàng trong số này trở thành yếu kém và mất khả năng chi trả?
Công bằng mà nói, bản thân việc cho phép thành lập các NHTMCP nông thôn thành NHTMCP đô thị không phải là sai, thậm chí còn là một điều kiện cần nếu muốn có các ngân hàng thương mại có đầy đủ chức năng hoạt động thông thường từ những ngân hàng hiện có mà không phải mất thời gian, công sức xây mới từ đầu. Tất nhiên, sự yếu kém sau này của chúng là có thật, nhưng đó là bởi những lý do khác, mà sau này mới bộc lộ ra, ví dụ, qua vấn đề sở hữu chéo.
Vấn đề thứ hai mà tác giả đề cập đến là quy định bắt buộc tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỉ đồng trong vòng bốn năm liệu có phải là quyết định đúng để tăng cường sự vững mạnh của các ngân hàng thương mại (NHTM) hay là nguyên nhân dẫn tới tình trạng vốn chủ sở hữu ảo và sở hữu chéo, từ đó làm suy yếu hệ thống ngân hàng Việt Nam?
Đến đây, ta đã bắt đầu thấy được sự liên kết giữa việc thành lập hàng loạt NHTMCP đô thị và việc tăng vốn bắt buộc. Nêu lại diễn biến quá trình tăng vốn điều lệ khá chật vật trong giai đoạn 2006-2010, dường như tác giả muốn chỉ ra rằng việc cấp phép ồ ạt thành lập hàng loạt ngân hàng từ một cơ sở yếu kém cộng với việc bắt buộc các ngân hàng này phải đạt được vốn điều lệ lớn hơn quy mô vốn thực có của chúng nhiều lần đã đẩy các ngân hàng vào con đường “làm liều” sau này.
Tuy vậy, cũng phải công bằng mà nhìn nhận rằng việc bắt buộc phải tăng vốn điều lệ tất nhiên có thể là không cần thiết, không luôn đồng nghĩa với tăng cường sự vững mạnh của các NHTM, nhưng nó cũng không phải là sai, chỉ có ở Việt Nam, vì tác giả cũng đồng ý rằng có nhiều quốc gia quy định NHTM phải có vốn điều lệ ở một mức tối thiểu nào đó. Như vậy, chuyện đáng nói hơn là cách thức nào để các NHTM này gia tăng được vốn điều lệ và nó có phù hợp với luật pháp và mong muốn của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hay không. Điều này được giải đáp phần nào ở chương nói về sở hữu, cho vay và đầu tư chéo như là một cách thức giúp các NHTM tăng được vốn điều lệ như quy định.
Cũng theo tác giả, NHNN một mặt đã đánh giá được vấn đề trầm trọng của sở hữu chéo giữa các tổ chức tín dụng, nhưng, mặt khác, NHNN lại cho rằng “việc kiểm tra phát hiện sở hữu chéo là rất khó khăn do thiếu bằng chứng pháp lý”. Như thế, có thể nói sự bất cập trong thanh tra, giám sát và khả năng xử lý vấn đề của NHNN, chứ không phải bản thân việc cho phép thành lập hàng loạt NHTMCP cũng như quy định bắt buộc tăng vốn điều lệ là hai trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng sở hữu chéo tràn lan, càng làm suy yếu hệ thống ngân hàng. Nói cách khác, giả sử NHNN làm tốt và làm nghiêm thì đã không xảy ra tình trạng sở hữu và đầu tư chéo tràn lan, và sẽ chỉ có những NHTM nào có khả năng tăng vốn điều lệ một cách lành mạnh mới được phép tồn tại, nhờ đó tạo ra một hệ thống ngân hàng có chất lượng cao hơn.
Vai trò và trách nhiệm của chính sách tiền tệ
Vai trò và trách nhiệm của NHNN còn được làm rõ hơn nữa trong chương nói về việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Với những dữ liệu và sự kiện được tác giả bố trí theo trình tự thời gian từ năm 2007-2011 và theo chủ đề, bắt đầu từ chính sách tiền tệ nới lỏng năm 2007, chuyển sang chính sách tiền tệ thắt chặt năm 2008, rồi lại một lần nữa chuyển thành chính sách tiền tệ nới lỏng năm 2009-2010 để rồi kết thúc ở chính sách tiền tệ thắt chặt năm 2011, người đọc sẽ thấy một cách rõ ràng các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ nói chung và NHNN nói riêng đã có những sai lầm, lại bị thay đổi thường xuyên và đột ngột ở mức độ cấp tập, với quy mô “quyết liệt”.
Bùng nổ tín dụng năm 2007 có nguyên nhân trực tiếp từ sai lầm chính sách ngoại hối khi NHNN mua vào một phần lớn trong số vốn nước ngoài chảy vào Việt Nam năm đó (lên tới 17,7 tỉ đô la Mỹ) mà không trung hòa đúng mức lượng tiền đồng đối ứng tung ra nền kinh tế. Cung tiền mở rộng quá mức đã trực tiếp thổi bùng tăng trưởng tín dụng dẫn đến bong bóng chứng khoán và bất động sản, làm tăng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Và, cũng như tác giả chỉ ra, tuy NHNN cũng phần nào ý thức được mối nguy hiểm của mở rộng cung tiền ồ ạt nhưng biện pháp thắt chặt tiền tệ duy nhất lúc đó chỉ là nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng của các NHTM từ 5% lên 10%, một biện pháp xem ra là quá muộn và không đủ độ hữu hiệu cần thiết.
Sang đến năm 2008, để kiềm chế lạm phát đã vọt lên trên 20%/năm trong bối cảnh cung tiền mở rộng quá mức, NHNN đã buộc phải thắt chặt cung tiền, và phải thắt chặt gấp và mạnh nhằm đưa nó trở lại mức tăng trưởng bình thường. Việc này đã gây ra hậu quả nghiêm trọng khi bong bóng tài sản xì hơi, dẫn đến làm giảm mạnh chất lượng bảng cân đối tài sản của các NHTM do nợ xấu tăng đột ngột. Tuy là việc cần thiết phải làm để sửa sai cho chính sách nới lỏng tín dụng năm 2007 nhưng có lẽ NHNN đã quá vội vàng trong những bước đi chính sách của mình, làm thị trường bị “phanh gấp” mà không kịp điều chỉnh.
Ở chiều hướng đối nghịch hoàn toàn, chính sách tiền tệ trong thời kỳ 2009-2010 lại được mở ra cũng hết sức dồn dập, và “quyết liệt” (trừ việc tăng một điểm phần trăm các loại lãi suất của NHNN cuối năm 2009), với mục đích mà, theo như tác giả nhận định, là để “hỗ trợ tăng trưởng và ổn định vĩ mô”. Nhưng chính sách tiền tệ nới lỏng như vậy thì đương nhiên chỉ có tác dụng “hỗ trợ tăng trưởng” chứ không thể “ổn định vĩ mô” được, nếu hiểu ổn định vĩ mô là phải có lạm phát thấp, ổn định. Cũng vì nới lỏng quá nhanh như vậy nên đã dẫn đến sự bùng nổ của thị trường tài chính với sự trở lại của các bong bóng tài sản, để rồi giai đoạn sau đó lại phải thắt chặt chính sách tiền tệ, dẫn đến sự suy sụp của thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, sự mở rộng quá mức của chính sách tài khóa, thể hiện ra ở chính sách kích cầu, hỗ trợ lãi suất, an sinh xã hội, đầu tư cơ sở hạ tầng và nhà ở xã hội… cũng là một nguyên nhân cho sự bất ổn vĩ mô và sự trồi sụt của thị trường tài chính.
Tóm lại, nếu xâu chuỗi lại các sự kiện và các con số trong báo cáo trên thì sẽ thấy rõ các bất ổn đã và đang tồn tại hiện nay trong hệ thống ngân hàng là bất ổn tự tạo, xuất phát từ những sai lầm và yếu kém trong hoạch định và thực thi các chính sách.

Lý Gia Trung – Nội tình cuộc gặp lãnh đạo Trung – Việt tại Thành Đô Lịch sử

Lý Gia Trung
Nguyên Hải biên dịch
141017141720_do_muoi_512x288_xinhua.jpgTháng 11 năm 1991, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt chính thức thăm Trung Quốc, lãnh đạo hai nước ra Thông cáo chung, tuyên bố thực hiện bình thường hóa mối quan hệ Trung –Việt, từ đó kết thúc trạng thái đối lập trong mối quan hệ giữa hai nước kéo dài tới 13 năm. Cần nói rằng để đạt được mục tiêu ấy, cả hai bên đều đã có những cố gắng lớn, trong đó cuộc gặp Thành Đô tháng 9-1990 giữa người lãnh đạo hai nước có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nó đánh dấu điểm ngoặt trong mối quan hệ Trung-Việt, không những san bằng con đường bình thường hóa mối quan hệ này mà còn có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài tới sự tiếp tục phát triển mối quan hệ hai nước.
Thay đổi chính quyền, quan hệ Trung -Việt xuất hiện tia sáng ban mai
Năm 1975 sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc, những người lãnh đạo Việt Nam hồi đó đã không kịp thời hàn gắn các vết thương do chiến tranh mang lại, mà triệt để xa rời đường lối Hồ Chí Minh, đối nội cưỡng chế thi hành cải tạo XHCN quá “tả”, đối ngoại dựa vào sự ủng hộ của Liên Xô, ra sức đẩy mạnh chủ nghĩa bá quyền khu vực, điên cuồng chắp nối lắp ghép “Liên bang Đông Dương”. Dưới sự dẫn dắt của đường lối sai lầm đó, Việt Nam một mặt công khai chống Trung Quốc, một mặt ra sức khống chế Lào, thậm chí phát động xâm lược vũ trang Campuchia. Những việc làm của họ đã đưa nền kinh tế Việt Nam tiến gần tới miệng hố sụp đổ, hoàn cảnh quốc tế bị cô lập chưa từng thấy.
Tháng 7-1986, Tổng Bí thư ĐCSVN Lê Duẩn ốm chết. Tháng 12 cùng năm, tại Đại hội VI ĐCSVN, Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Đảng. Trong thời kỳ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ những năm 60, Nguyễn Văn Linh là thành viên ban lãnh đạo Trung ương Cục Miền Nam ĐCSVN, từng nhiều lần bí mật thăm Trung Quốc, có thái độ thành khẩn hữu hảo đối với Trung Quốc, rất được Mao Chủ tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai đánh giá cao, cho rằng ông là người lãnh đạo kế tục rất có hy vọng của Việt Nam. Nhưng sau khi kháng chiến chống Mỹ kết thúc, Nguyễn Văn Linh không tán thành chính sách đối nội đối ngoại sai lầm của người lãnh đạo đương thời, vì thế ông từng mấy lần bị gạt bỏ. Sau khi lên làm Tổng Bí thư ĐCSVN, Nguyễn Văn Linh khẩn trương uốn nắn toàn bộ cách làm sai lầm của người tiền nhiệm, đề xuất khẩu hiệu Việt Nam cần phải “làm bạn với tất cả các nước”. Ông cho rằng lúc đó Việt Nam có hai nhiệm vụ khẩn thiết nhất là rút quân khỏi Campuchia và cải thiện quan hệ với Trung Quốc.
Thế nhưng Bộ Ngoại giao do Nguyễn Cơ Thạch, – một thân tín của Tổng Bí thư tiền nhiệm, Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nắm giữ – vẫn tiếp tục hành sự theo tư duy của Lê Duẩn, tìm đủ mọi cách can nhiễu và ngăn cản sự bố trí chiến lược của Nguyễn Văn Linh. Là người lãnh đạo mới lên nắm quyền, Nguyễn Văn Linh chưa có cơ sở vững chắc trong tầng lớp quyết sách ở trung ương; một số ý tưởng của ông cũng chưa được nhiều người lãnh đạo hiểu biết và ủng hộ. Trong tình hình đó, làm thế nào mới có thể thực hiện được mục tiêu nói trên là một vấn đề hóc búa và đau đầu nhưng lại tất phải giải quyết.
Cay-xỏn Phôm-vi-hản thăm Trung Quốc ba lần xin gặp Đặng Tiểu Bình thổ lộ điều bí mật
Tháng 10-1989, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng kiêm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản thăm Trung Quốc. Hồi ấy tôi là Trưởng phòng Đông Dương, Vụ Châu Á Bộ Ngoại giao có tham gia công tác tiếp đón. Theo kế hoạch đón tiếp được Trung ương duyệt thì Thủ tướng Lý Bằng sẽ chủ trị hội đàm, Tổng Bí thư Giang Trạch Dân hội kiến và mở tiệc chiêu đãi loại thường (nguyên văn tiện yến). Nhưng phía Lào tha thiết mong muốn đồng chí Đặng Tiểu Bình có thể hội kiến Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Phía Trung Quốc tỏ ý Đặng Tiểu Bình tuổi đã cao, không thể gặp bất cứ khách nước ngoài nào, xin thông cảm. Dù vậy, Cay-xỏn Phôm-vi-hản vẫn kiên trì yêu cầu gặp Đặng Tiểu Bình, tôi nhớ là họ trước sau ba lần đề ra vấn đề này. Trong tình hình đó, qua nhiều lần nghiên cứu, bàn bạc, cuối cùng thỏa thuận mời Đặng Tiểu Bình gặp ngắn gọn có tính nghi lễ. Vì vậy Bộ Ngoại giao cũng không chuẩn bị đề cương chi tiết các điểm chính để tham khảo khi trò chuyện.
Không ngờ hai vị lãnh đạo nói chuyện lâu tới 40 phút, hơn nữa đều nói về những vấn đề có tính thực chất rất quan trọng. Cay-xỏn Phôm-vi-hản thành khẩn thừa nhận trong 10 năm qua mối quan hệ Lào với Trung Quốc ở vào trạng thái không bình thường là do chịu “ảnh hưởng từ bên ngoài”, chuyến thăm Trung Quốc lần này sẽ đánh dấu việc hoàn toàn bình thường hóa quan hệ hai nước. Đồng thời Cay-xỏn Phôm-vi-hản còn chuyển lời hỏi thăm thân thiết của Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Văn Linh tới Đặng Tiểu Bình, nói Việt Nam đã có nhận thức mới đối với tình hình Trung Quốc, thái độ đối với Trung Quốc cũng có thay đổi, còn nói Nguyễn Văn Linh hy vọng Trung Quốc có thể mời ông thăm Trung Quốc.
Đặng Tiểu Bình cũng mời Cay-xỏn Phôm-vi-hản chuyển hộ lời hỏi thăm Nguyễn Văn Linh và nói: “Tôi quen đồng chí Nguyễn Văn Linh từ lâu, tôi biết đồng chí ấy tư duy linh hoạt, rất có lý trí, công tác rất đắc lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng đồng chí ấy. Tôi mong muốn đồng chí Nguyễn Văn Linh quả quyết giải quyết dứt điểm vấn đề Campuchia. Hiện nay tôi đã già, sắp nghỉ hưu, tôi hy vọng trước khi nghỉ hưu hoặc không lâu sau khi tôi nghỉ hưu, vấn đề Campuchia sẽ có thể được giải quyết, mối quan hệ Trung Quốc – Việt Nam khôi phục bình thường, như vậy một nỗi băn khoăn (nguyên văn tâm sựcủa tôi sẽ được dẹp bỏ.”
Đặng Tiểu Bình đặc biệt nhấn mạnh Việt Nam phải rút sạch sành sanh quân đội ra khỏi Campuchia. Ông nhờ Cay-xỏn Phôm-vi-hản chuyển những ý kiến đó tới Nguyễn Văn Linh. Ngoài ra Đặng Tiểu Bình còn nói một câu ý vị sâu sắc: “Nguyễn Cơ Thạch, cái người này thích hoạt động lén lút.” Lúc ấy tôi làm công tác ghi chép tại chỗ, cảm thấy câu này dường như buột miệng nói ra, nhưng trọng lượng rất nặng. Theo tôi hiểu, câu nói ấy muốn bảo Nguyễn Văn Linh rằng Trung Quốc đã mất niềm tin với Nguyễn Cơ Thạch, cho dù là giải quyết vấn đề Campuchia hay thực hiện bình thường hóa mối quan hệ Trung – Việt đều không thể hy vọng và dựa vào Nguyễn Cơ Thạch.
Nguyễn Văn Linh tiếp Đại sứ Trung Quốc để tỏ ý hữu hảo
Cay-xỏn Phôm-vi-hản trên đường về nước có dừng lại ngắn ngày ở Việt Nam, ông đã kịp thời và toàn diện chuyển tới Nguyễn Văn Linh lời nhắn của Đặng Tiểu Bình. Nghe xong, Nguyễn Văn Linh rất coi trọng, càng có hiểu biết thiết thân về “hoạt động lén lút” của Nguyễn Cơ Thạch. Ông hiểu rằng muốn cải thiện quan hệ Việt –Trung trước hết phải giải quyết vấn đề Campuchia, mà giải quyết vấn đề Campuchia như thế nào thì phải bàn với Trung Quốc. Ông còn ý thức được rằng Đặng Tiểu Bình tuy đã gửi lời nhắn nhưng lại không đưa ra lời mời mình thăm Trung Quốc. Trong tình hình đó làm cách nào để thực hiện thăm Trung Quốc là vấn đề ông cần gấp rút giải quyết.
Ngày 5-6-1990, qua sự nỗ lực của nhiều bên, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã hội kiến Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam Trương Đức Duy tại Nhà khách Trung ương ĐCSVN. Trước tiên Nguyễn Văn Linh nhờ Đại sứ Trương chuyển lời hỏi thăm của ông tới các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Lý Bằng. Nguyễn Văn Linh nói, trong thời kỳ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, ông từng nhiều lần đi Trung Quốc, đã gặp Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai, các đồng chí Đặng Tiểu Bình v.v… Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai, đồng chí Đặng Tiểu Bình là người cùng thế hệ với Hồ Chủ tịch; Nguyễn Văn Linh là học trò của họ. Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến cũng như trong nhà tù của kẻ địch, ông luôn luôn học tập và nghiên cứu các trước tác của Mao Chủ tịch bàn về cách mạng dân tộc dân chủ, được lợi không ít. Trong thời kỳ Việt Nam chống Pháp, chống Mỹ, Trung Quốc đã viện trợ to lớn cho Việt Nam về mọi mặt, cả đến gạo, bánh quy nén, dưa chua, đều do Trung Quốc giúp. Hơn nữa Trung Quốc cũng giúp Việt Nam rất nhiều về chiến lược và tư tưởng chỉ đạo, thí dụ Việt Nam làm chiến tranh nhân dân là học tư tưởng chiến tranh nhân dân của Mao Chủ tịch rồi vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Có thể nói nếu không có sự viện trợ của Trung Quốc thì Việt Nam không thể đánh bại đế quốc Mỹ.
Nguyễn Văn Linh nói, sau khi kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, toàn quốc thống nhất, Việt Nam lẽ ra nên tập trung lực lượng xây dựng kinh tế, nhưng đã xuất hiện tình hình khó khăn và phức tạp không ngờ tới, mười mấy năm nay Việt Nam càng gian khổ hơn thời kỳ chống Mỹ, đời sống ngày càng khó khăn, đặc biệt là mối quan hệ Việt –Trung xuất hiện khó khăn. Ông nói rằng Việt Nam đã làm một số việc không tốt với Trung Quốc. Ông luôn chủ trương làm sai thì phải sửa. Mong các đồng chí Trung Quốc thông cảm và bỏ qua những chuyện về mặt này, chuyện đã qua rồi thì để nó qua đi thôi. Việc quan trọng hơn trước mắt là làm tốt mối quan hệ giữa hai nước hiện nay và sau này.
Nguyễn Văn Linh nói tình hình quốc tế đang thay đổi mạnh, tình thế ở Đông Âu diễn biến rất phức tạp, tình thế Liên Xô cũng rất nghiêm trọng. Bọn đế quốc dốc sức can thiệp, ra sức làm diễn biến hòa bình, mơ tưởng một lần tiêu diệt chủ nghĩa xã hội. Trước kia mọi người nói Liên Xô là thành trì của hòa bình thế giới, nhưng hiện nay thành trì này đang lung lay. Trung Quốc là một nước lớn, Đảng Trung Quốc là một đảng lớn, lại kiên định đi con đường XHCN. Trong tình hình hiện nay, Trung Quốc có địa vị và tác dụng đặc biệt quan trọng. Chúng tôi cần Trung Quốc giơ ngọn cờ XHCN. Hai nước Việt Nam – Trung Quốc là láng giềng XHCN. Việt Nam là nước nhỏ, Đảng Việt Nam là đảng nhỏ, rất cần có sự ủng hộ và giúp đỡ của một nước lớn, đảng lớn như Trung Quốc. Nguyễn Văn Linh nói đây là lời thực lòng của ông.
Nguyễn Văn Linh nói, vấn đề Campuchia dù thế nào cũng phải giải quyết một cách hòa bình, Campuchia trong tương lai không nên thân phương Tây, cũng không được để phương Tây và Liên Hợp Quốc can thiệp quá sâu. Bởi vậy hai phía Việt Nam – Trung Quốc có thể hợp tác với nhau, từ bên trong thúc đẩy Pol Pot, Ieng Sary hòa giải với Heng Samrin, Hun Sen, đối ngoại vẫn có thể theo con đường thương lượng giữa các bên hiện nay. Ý tưởng gạt bỏ Khmer Đỏ là không thực tế.
Nguyễn Văn Linh tỏ ý ông rất muốn gặp mặt các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc cao nhất để trao đổi ý kiến một cách thấu triệt, như anh em với nhau, có thể không câu nệ nghi lễ ngoại giao. Ông nói, kinh nghiệm lịch sử cho thấy người lãnh đạo cao nhất hai nước trực tiếp nói chuyện với nhau thì dễ hiểu biết thông cảm lẫn nhau và đạt được nhất trí, cũng có thể giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng. Nguyễn Văn Linh còn nói, ông đã nhiều tuổi, muốn trước khi nghỉ hưu có thể bàn bạc cùng với người lãnh đạo Trung Quốc giải quyết xong dứt điểm vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ Việt –Trung.
Khi hội kiến, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng có mặt, nhưng nội dung nói chuyện hoàn toàn khác với luận điệu cũ rích chống Trung Quốc của Nguyễn Cơ Thạch. [Tôi] đoán rằng việc bố trí Nguyễn Cơ Thạch dự hội kiến rất có thể có dụng ý là để ông ta mặt đối mặt nghe xem rốt cuộc Tổng Bí thư nói gì, cũng có thể lúc ấy [Tổng Bí thư] còn có chút hy vọng với ông ta, dành cho ông ta cơ hội thay đổi cách làm việc. Dĩ nhiên cũng chính là do Nguyễn Cơ Thạch có mặt nên Nguyễn Văn Linh chưa nói sâu sắc, thấu triệt hơn.
Sau khi kết thúc cuộc hội kiến, Đại sứ Trương lập tức báo cáo cho bên nhà biết chi tiết nội dung cuộc nói chuyện của Nguyễn Văn Linh và thỉnh thị trong nước có chỉ thị gì. Bên nhà nghiên cứu kỹ rồi nhanh chóng trả lời rằng hãy cứ yêu cầu Việt Nam rút nhanh quân đội ra khỏi Campuchia và giải quyết ổn thỏa vấn đề liên hợp hai bên đối lập ở Campuchia sau khi rút quân, tức chính quyền Phnom Penh với ba phái lực lượng chống đối, sau đó sẽ từng bước thu xếp suôn sẻ cuộc gặp cấp cao giữa nhà lãnh đạo hai nước. Trong tình hình đó, làm cách nào để phá vỡ thế bí, thực hiện cuộc gặp với lãnh đạo Trung Quốc là vấn đề đòi hỏi Nguyễn Văn Linh suy nghĩ rất lung.
Một nhân vật bí ẩn xuất hiện ở Sứ quán cho xem mật thư
Sáng ngày 16-8-1990, một cán bộ họ Hoàng của Viện Khoa học xã hội Việt Nam đến trước cổng Đại sứ quán Trung Quốc. Ông nói với nhân viên tiếp đón của Sứ quán là có việc cần gặp Đại sứ Trương. Đại sứ đã tiếp ông này tại phòng khách Sứ quán. Vì Đại sứ Trương thạo tiếng Việt nên hai người nói chuyện không cần phiên dịch. Hoàng nói nhà ông ở gần nhà Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, tối ngày 13/8 Tổng Bí thư cho xe đón ông đến nhà nói chuyện một giờ đồng hồ. Tổng Bí thư nói ông vốn dĩ muốn một lần nữa hẹn gặp Đại sứ Trương nhưng Bộ Ngoại giao ngăn cản, nói là không cần thiết. Vì vậy Tổng Bí thư nhờ Hoàng nhắn miệng tới Đại sứ Trương.
Nói đoạn, Hoàng lấy từ túi áo ra một mảnh giấy viết thư gập lại rất nhỏ và giải thích đây là những điều ông ghi lại lời của Tổng Bí thư, đã được Tổng Bí thư soát lại không có gì sai. Trong đó có đoạn nói:
Tháng 10 năm ngoái, đồng chí Cay-xỏn chuyển tới tôi lời hỏi thăm của đồng chí Đặng Tiểu Bình và lời nhắn miệng nói đồng chí hy vọng trong những năm còn sống được thấy quan hệ Trung Quốc – Việt Nam bình thường hóa, tôi rất hoan nghênh những điều đó. Cũng vậy, tôi tha thiết mong muốn trong nhiệm kỳ tôi chủ trì Trung ương ĐCSVN khóa VI có thể khôi phục quan hệ Việt Nam – Trung Quốc để từ Đại hội VII sắp họp sẽ bắt đầu một giai đoạn mới trong quan hệ giữa hai nước. Làm được việc này tôi mới xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Việt Nam và đảng viên ĐCSVN dành cho tôi.
“Sở dĩ vấn đề Campuchia  trở ngại ấy cãi nhau mãi chưa thể giải quyết là do Nguyễn Cơ Thạch luôn luôn làm chệch hướng việc này. Tôi cho rằng hiện nay người lãnh đạo hai nước cần phải bàn bạc trực tiếp và đi sâu, nhằm thanh toán hết mọi hiểu lầm và loại bỏ sự can thiệp của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Tôi tin rằng những người cộng sản chân chính của hai nước đều xuất phát từ hy vọng tha thiết bảo vệ CNXH và khôi phục tình hữu nghị trong sáng chân thành giữa hai nước để tiến hành gặp gỡ, vấn đề Campuchia nhất định có thể nhanh chóng được giải quyết. Nếu các đồng chí Trung Quốc cũng có quan điểm như vậy thì đề nghị gửi lời mời nội bộ, tôi sẽ lập tức bí mật đi Trung Quốc.
Để việc thảo luận tiến hành được chắc chắn tin cậy, để sau khi về nước tôi có thể thuyết phục có hiệu quả tập thể Ban Chấp hành trung ương và Bộ Chính trị ĐCSVN, tốt nhất nên có hai đồng chí Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng cùng tôi đi Trung Quốc.”
Điểm xuất phát tôi yêu cầu đi thăm Trung Quốc nội bộ là để đích thân thâm nhập nghe ý kiến của các đồng chí Giang Trạch Dân, Đặng Tiểu Bình, Lý Bằng, cũng là để các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc đích thân thâm nhập hiểu rõ cá nhân tôi. Hai bên cùng nhau thành khẩn tìm ra phương án giải quyết tốt nhất một loạt vấn đề, trước hết là vấn đề Campuchia. Trước mắt tôi có khó khăn nhất định nhưng tôi có niềm tin.
Nếu được các đồng chí Trung Quốc ủng hộ và giúp đỡ, tôi sẽ đi theo đường lối của Hồ Chủ tịch, thuận lợi tiến chắc tới mục tiêu trên phương diện xây dựng tình hữu nghị Việt-Trung tốt đẹp, bảo vệ CNXH và lợi ích cách mạng chung.”
Đỗ Mười mà Nguyễn Văn Linh nhắc tới là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) Việt Nam, Phạm Văn Đồng là cựu Thủ tướng Việt Nam, bấy giờ làm Cố vấn Trung ương Đảng.
Hoàng giải thích, ông hiểu ý của Tổng Bí thư là: do Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ngấm ngầm gây bế tắc, tiến trình Việt Nam – Trung Quốc giải quyết vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ hai nước bị cản trở, bởi thế Tổng Bí thư muốn đi vòng qua Nguyễn Cơ Thạch và Bộ Ngoại giao do ông ấy nắm, lãnh đạo cao nhất hai nước trực tiếp gặp nhau, sau khi bàn bạc quyết định vấn đề rồi có thể ra lệnh cho Bộ Ngoại giao quán triệt chấp hành.
Tiễn đưa Hoàng xong, việc đầu tiên Đại sứ Trương vội làm là lập tức báo cáo trong nước biết các ý kiến Nguyễn Văn Linh nhờ Hoàng chuyển giúp. Nhưng đồng thời [Đại sứ] cần xem xét một vấn đề là Đại Sứ quán có nên đề xuất với trong nước quan điểm và kiến nghị của mình hay không. Chỗ khó là bên nhà vừa mới trả lời rõ ràng yêu cầu đi thăm nội bộ Trung Quốc do Nguyễn Văn Linh đề ra hôm mồng 5 tháng 6, tức đòi phía Việt Nam trước tiên phải giải quyết vấn đề rút quân khỏi Campuchia và xúc tiến việc thành lập sự liên hợp hai bên đối lập ở Campuchia, rồi mới thu xếp cuộc gặp người lãnh đạo hai nước. Trong tình hình này, nếu lặp lại ý kiến của bên nhà thì coi như không nêu ra kiến nghị nữa; nhưng nếu đưa ra kiến nghị khác với ý kiến bên nhà thì liệu có bị hiểu nhầm là chủ trương ngược lại với trong nước chăng?
Vì việc đó, chiều hôm ấy khi vừa bắt đầu giờ làm việc, Đại sứ Trương gọi tôi và hai Bí thư thứ nhất cùng bàn bạc. Qua thảo luận, Đại sứ Trương và chúng tôi nhất trí cho rằng chức trách của Đại Sứ quán là đứng gác cho trong nước, làm tốt nhiệm vụ tham mưu. Phúc đáp lần trước của trong nước rõ ràng là đúng, nhưng hiện giờ xuất hiện tình hình mới, Nguyễn Văn Linh quyết kế đi vòng qua Nguyễn Cơ Thạch để tiến hành bàn bạc chân thành có tính thực chất với người lãnh đạo nước ta; vì vậy Đại Sứ quán nên căn cứ tình hình mới, mạnh dạn nêu ra kiến nghị mới. Thế là Sứ quán trịnh trọng kiến nghị bên nhà tích cực xem xét việc Nguyễn Văn Linh một lần nữa nêu yêu cầu thăm Trung Quốc nội bộ.
Đại sứ Trương thi hành diệu kế đến thăm Bộ Quốc phòng
Đêm 19 tháng 8, Sứ quán nhận được trả lời của trong nước. Bên nhà chỉ thị Đại sứ Trương tìm cách tránh Bộ Ngoại giao Việt Nam, gặp người tin cậy ở bên cạnh Nguyễn Văn Linh đề xuất Đại sứ muốn sớm gặp riêng Tổng Bí thư để trực diện tìm hiểu ý đồ thật sự của Tổng Bí thư; có kết quả gì lập tức báo cáo trong nước. Không còn nghi ngờ gì nữa, đối với Đại sứ, đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu và vượt trên tất cả mọi nhiệm vụ khác, nhưng chẳng nói cũng rõ mức độ khó khăn của công việc này.
8 giờ sáng ngày 20, Đại sứ Trương triệu tập cuộc họp mở rộng Đảng ủy Sứ quán nghiên cứu cách thực hiện chỉ thị của trong nước, nhưng chẳng ai đề ra được kế sách hay nào. Mọi người đều rõ, trong suốt những năm 80, Việt Nam luôn luôn coi Trung Quốc là “kẻ địch trực tiếp nhất, nguy hiểm nhất”, các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh truyền hình đều phát đi những nội dung chống Trung Quốc; trong các buổi chiêu đãi và mọi nghi thức ngoại giao, bất cứ quan chức Việt Nam nào cũng không dám nói chuyện với quan chức ngoại giao Trung Quốc. Trong tình hình như vậy, chưa nói việc chẳng có cách nào tìm gặp được người tin cậy ở bên Nguyễn Văn Linh mà ngay cả chuyện ai là người tin cậy ở bên Tổng Bí thư, cũng không ai biết.
Trong tình hình tìm không ra manh mối nào, mọi người không hẹn mà cùng nhớ tới một chuyện. Đó là ngày 6 tháng 6, tức sau hôm Nguyễn Văn Linh gặp Đại sứ Trương, Đại tướng Lê Đức Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam có gặp riêng và mời cơm Đại sứ Trương. Ngoài việc giải thích thêm tinh thần câu chuyện Nguyễn Văn Linh nói hôm mồng 5 ra, Lê Đức Anh còn nói không ít những lời hữu nghị với Trung Quốc. Thế là Đại sứ Trương quyết định thử dùng kênh thông qua Bộ Quốc phòng và Lê Đức Anh xem sao; ông chỉ thị Tùy viên quân sự Sứ quán là Thượng tá Triệu Nhuệ lập tức hành động.
Quả nhiên Đại tướng Lê Đức Anh rất vui lòng gặp Đại sứ Trương. Tám giờ sáng ngày 21, Đại sứ Trương đi một chiếc xe con không cắm quốc kỳ đến Bộ Quốc phòng Việt Nam. Lê Đức Anh thân mật bắt tay, ôm vai Đại sứ Trương và nói Đại sứ muốn gặp ông lúc nào ông đều hoan nghênh cả. Đại sứ Trương đi thẳng ngay vào vấn đề, tóm tắt kể lại một lượt việc hôm trước Hoàng Nhật Tân chuyển tới Đại sứ những lời của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, ngỏ ý bản thân Đại sứ rất muốn trực diện nghe ý kiến của Tổng Bí thư, hy vọng Lê Đức Anh liên hệ giúp. Lê tỏ ý sẽ lập tức làm ngay việc này.
Chiều hôm ấy Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam Vũ Xuân Vinh khẩn cấp hẹn gặp Tùy viên quân sự Sứ quán Trung Quốc Triệu Nhuệ và báo cho biết: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh sẽ hội kiến Đại sứ Trương vào 7 giờ 30 tối ngày 22 tại Nhà khách Bộ Quốc phòng, hai bên đều không mang theo phiên dịch viên, kiến nghị Đại sứ Trương đi xe khác, không cắm quốc kỳ. Vũ còn nói việc này chỉ có ông và Trưởng phòng Vũ Tần của Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam biết, những người khác đều không biết. Sau khi về Sứ quán, Tùy viên Triệu lập tức báo cáo Đại sứ Trương.
Có những sự việc không hẹn mà gặp nhau. Vợ chồng Đại sứ Trương vốn dĩ đã ấn định 6 giờ 30 tối ngày 22 mời cơm vợ chồng Đại sứ Malaysia, trước đó đã gửi thiếp mời. Để không thất lễ mà lại có thể bảo đảm đúng giờ đi gặp Nguyễn Văn Linh, Đại sứ quyết định giả vờ ốm, để tôi và phu nhân Đại sứ tiếp khách dùng cơm. Tối hôm ấy vợ chồng Đại sứ Malaysia đúng giờ đến Đại Sứ quán. Sau khi vào phòng khách, họ thấy Đại sứ Trương vẻ thiểu não đang ngồi trên ghế được người phiên dịch và nhân viên tiếp tân dìu đứng dậy, mệt nhọc nói: “Xin chào Đại sứ và phu nhân. Rất xin lỗi các ngài là cái bệnh Meniere [2] của tôi lại tái phát, làm cho tôi bị nhức đầu buồn nôn, vì thế tôi chỉ có thể tiếp các ngài được một lúc thôi ạ. Ông Lý, Tham tán Chính trị của Đại Sứ quán và phu nhân của tôi sẽ tiếp ngài Đại sứ và phu nhân dùng cơm.” Nghe nói vậy, Đại sứ Malaysia rất cảm động, ông nói: “Ngài Đại sứ đang đau ốm mà vẫn ra đón khách, chúng tôi thật không phải với ngài. Xin mời Đại sứ về nghỉ ngơi, chúc ngài sớm bình phục.” Nói đoạn, ông thân chinh dìu Đại sứ Trương đứng dậy, hai người bắt tay tạm biệt. Vừa ra khỏi phòng khách, Đại sứ Trương rảo bước đi tới chiếc xe đang chờ sẵn trong sân. Chiếc Toyota màu đen phóng ngay tới Bộ Quốc phòng Việt Nam.
Nguyễn Văn Linh bí mật gặp Đại sứ Trương
Khi gặp Đại sứ Trương, trước tiên Nguyễn Văn Linh khẳng định ông đã nhờ Hoàng Nhật Tân là con trai Hoàng Văn Hoan chuyển lời nhắn tới Đại sứ Trương, nội dung cũng chính xác không có gì sai cả. Nguyễn Văn Linh nói bản thân ông trước nay đều cho rằng Việt Nam nên giữ quan hệ tốt với Trung Quốc. Năm 1976, tại Đại hội IV ĐCSVN, vì không đồng ý với một số biện pháp làm xấu mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc của chính quyền hồi ấy mà ông bị lên án là “hữu khuynh”. Năm 1982 tại Đại hội V ĐCSVN lại vì ông chủ trương trong giai đoạn hiện nay Việt Nam nên cho phép đồng thời tồn tại nhiều thành phần kinh tế và không đồng ý với chính sách chống Trung Quốc mà bị chèn ép ra khỏi Bộ Chính trị. Hồi ấy ông rất khó hiểu tại sao lại áp dụng thái độ như vậy với Trung Quốc. Nếu Bác Hồ còn thì nhất định sẽ không xuất hiện những chuyện kỳ quặc như thế. Nguyễn Văn Linh còn nói, chính sách của Việt Nam đối với Hoa kiều và người Hoa cũng sai lầm. Hoa kiều và người Hoa có đóng góp quý giá cho cách mạng Việt Nam, sau khi chiến thắng, Việt Nam lại kỳ thị họ, xua đuổi họ, thật là không có tình có lý.
Nguyễn Văn Linh nói, năm 1986, sau khi nhận nhiệm vụ Tổng Bí thư ĐCSVN ông quyết tâm vượt qua mọi sức cản, từng bước uốn nắn các sai lầm trước đây, khôi phục mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Trước hết là thuyết phục Trung ương ĐCSVN kiến nghị Quốc hội xóa bỏ các nội dung có liên quan chống Trung Quốc viết trong Hiến pháp. Tiếp đó lại làm các công việc trên nhiều mặt, cuối cùng ra được quyết định rút quân khỏi Campuchia. Nguyễn Văn Linh nói, trong tình hình quốc tế hiện nay, đối với Việt Nam, việc xây dựng, phát triển tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với Trung Quốc, trung tâm XHCN kiên cường này, rõ ràng là một nhiệm vụ càng quan trọng và bức thiết. Bởi vậy, ông có một nguyện vọng lớn nhất là thực hiện được việc bình thường hóa mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc vào trước Đại hội VII ĐCSVN năm 1991. Đây sẽ là một việc lớn làm phấn chấn lòng người đối với toàn đảng và toàn dân Việt Nam.
Về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh nói ông hiểu rõ tính chất quan trọng và bức thiết của việc giải quyết vấn đề này. Lẽ ra hai bên Việt Nam và Trung Quốc thông qua con đường ngoại giao để bàn bạc giải quyết vấn đề này là tốt nhất và suôn sẻ nhất. Nhưng do Nguyễn Cơ Thạch và Bộ Ngoại giao do ông ta nắm có ý đồ gây rối, hiện nay con đường này rất khó đi. Vì vậy ông nghĩ bản thân ông phải đi Bắc Kinh trực tiếp hội đàm với Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng, cùng bàn bạc phương án giải quyết tốt nhất. Nguyễn Văn Linh nói, trên vấn đề Campuchia, Nguyễn Cơ Thạch có quan điểm không nhất trí với phần lớn các Ủy viên Bộ Chính trị, ông ta luôn luôn làm sai lệch công việc. Nguyễn Văn Linh còn nói, những cuộc gặp cá nhân như cuộc gặp Đại sứ Trương hôm nay không nên quá nhiều. Nếu Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng mời ông và Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đi Trung Quốc thì đề nghị Đại sứ Trương trực tiếp đề xuất với Bộ Ngoại giao Việt Nam ý định đồng thời gặp Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Chủ tịch Nhà nước Võ Chí Công, trực diện chuyển ý kiến của người lãnh đạo Trung Quốc, làm như vậy sẽ ổn thỏa hơn.
Đại sứ Trương cảm ơn Nguyễn Văn Linh đã tiếp và tỏ ý sẽ lập tức báo cáo trong nước biết nội dung cuộc nói chuyện của ông.
Gặp gỡ bí mật Thành Đô
Chiều 28 tháng 8 năm 1990, Sứ quán nhận được chỉ thị của trong nước, đề nghị Đại sứ Trương chuyển lời tới Nguyễn Văn Linh: Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười tiến hành thăm nội bộ Trung Quốc từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9, cũng hoan nghênh Cố vấn Trung ương ĐCSVN Phạm Văn Đồng đồng thời cùng đi. Hiện nay thời cơ giải quyết chính trị vấn đề Campuchia đã chín muồi, hai phía Trung Quốc – Việt Nam cần cùng nhau cố gắng xúc tiến giải quyết thật nhanh vấn đề này và sớm thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung – Việt. Do Á Vận Hội sắp sửa tiến hành tại Bắc Kinh, vì để tiện giữ bí mật, địa điểm hội đàm sẽ thu xếp tại Thành Đô, Tứ Xuyên.
Đại sứ Trương Đức Duy lập tức họp hội nghị mở rộng Đảng ủy Sứ quán nghiên cứu tìm cách nhanh chóng nhất chuyển thông tin quan trọng của trong nước tới Nguyễn Văn Linh. Nhờ đã có kinh nghiệm lần trước nên lần này mọi người ít nhiều đã có chút vững tâm, quyết định vẫn cứ để Tùy viên quân sự Triệu Nhuệ liên hệ với Bộ Quốc phòng Việt Nam. Thế là 8 giờ sáng ngày 29, một lần nữa Đại sứ Trương gặp Lê Đức Anh, đề nghị ông giúp đỡ thu xếp để Đại sứ Trương trực tiếp báo cáo Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh biết thông tin quan trọng đến từ Bắc Kinh.
Một tiếng đồng hồ sau, Trưởng phòng Vũ Tần thuộc Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam hẹn gặp Tùy viên quân sự Triệu Nhuệ, chuyển đạt lời nhắn miệng của Lê Đức Anh nói Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ấn định 4 giờ chiều hôm ấy sẽ cùng Chủ tịch Đỗ Mười tiếp Đại sứ Trương. Để thể hiện cuộc hội kiến này được liên hệ qua kênh chính thức, Tổng Bí thư kiến nghị Đại sứ quán Trung Quốc chính thức nêu yêu cầu với Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN, nói rằng Đại sứ Trương có việc khẩn cấp hy vọng được hội kiến Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và các đồng chí lãnh đạo Việt Nam khác trong cùng ngày. Căn cứ theo sự gợi ý của Nguyễn Văn Linh, 1 giờ chiều hôm đó Đại sứ Trương đến gặp Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN Trịnh Ngọc Thái nêu ra yêu cầu nói trên.
Qua sự bố trí của Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN, 4 giờ chiều Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười hội kiến Đại sứ Trương tại Phòng khách Trung ương ĐCSVN. Đại sứ Trương chuyển tới Nguyễn và Đỗ ý kiến của Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng mời hai đồng chí thăm Trung Quốc nội bộ. Nguyễn và Đỗ đều rất vui mừng nhận lời mời, đồng ý với thời gian và địa điểm cuộc gặp do phía Trung Quốc đề xuất và nói sẽ lập tức báo cáo Bộ Chính trị Trung ương ĐCSVN, nhanh chóng xác định danh sách nhân viên đi theo và bắt tay làm công tác chuẩn bị. Nguyễn Văn Linh còn nói, nếu tình hình sức khỏe cho phép thì đồng chí Phạm Văn Đồng cũng sẽ nhất định nhận lời mời cùng đi. Sau khi về Sứ quán, Đại sứ Trương lập tức báo cáo trong nước biết tình hình cuộc gặp chiều nay.
Ngày 30, trong nước thông báo cho Sứ quán biết thu xếp lịch trình đại thể của lần gặp gỡ này, đó là: sáng ngày 3 tháng 9, chuyên cơ Việt Nam rời Hà Nội, 1 giờ trưa đến Thành Đô, buổi chiều lãnh đạo hai bên hội đàm, buổi tối phía Trung Quốc mở tiệc chiêu đãi. Sáng ngày 4 tháng 9 tiếp tục hội đàm, buổi chiều chuyên cơ Việt Nam rời Thành Đô về nước. Sau khi thỉnh thị và được trong nước đồng ý, Đại sứ Trương sẽ cùng đáp chuyến chuyên cơ Việt Nam đi Thành Đô và tham gia hội đàm.
Sáng ngày 3, tôi đi xe của Đại sứ Trương đến sân bay quốc tế Nội Bài Hà Nội, vừa để tiễn Đại sứ Trương vừa cũng là để tiễn đoàn Nguyễn Văn Linh. Phía Việt Nam tất cả có 15 người đi chuyến này, ngoài Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng ra, các nhân viên chủ yếu cùng đi còn có Chánh Văn phòng Trung ương ĐCSVN Hồng Hà (Ủy viên Trung ương Đảng), Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN Hoàng Bích Sơn (Uỷ viên Trung ương Đảng), Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm (Uỷ viên Trung ương Đảng), còn lại là các nhân viên công tác. Khi xe của Đại sứ Trương tới gần sân bay thì thấy một xe con kiểu bình thường màu đen chạy sau xe chúng tôi, ngoảnh lại nhìn, vì xe không treo màn cửa nên có thể thấy rõ người ngồi bên trong là Nguyễn Văn Linh, bên cạnh người lái xe có một cán bộ bảo vệ. Có thể thấy Nguyễn Văn Linh vẫn giữ tác phong giản dị như thế của Hồ Chí Minh. Xe chúng tôi lập tức chạy chậm lại nhường đường cho xe Nguyễn Văn Linh. Tại sân bay không làm bất kỳ nghi lễ tiễn đưa nào, đoàn Nguyễn Văn Linh và Đại sứ Trương lên máy bay xong, chuyên cơ liền cất cánh.
Sau khi từ Thành Đô trở về, Đại sứ Trương cho chúng tôi biết cuộc gặp lãnh đạo hai nước chủ yếu thảo luận cách giải quyết chính trị vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ bình thường Trung Quốc – Việt Nam. Về vấn đề Campuchia, hai bên chú trọng bàn về thành viên Ủy ban Tối cao cơ quan quyền lực lâm thời Campuchia [SNC], tức phương án phân phối quyền lực sau khi Việt Nam rút quân. Phía Trung Quốc đề xuất Ủy ban này gồm 13 thành viên, ngoài Sihanouk làm Chủ tịch ra, chính quyền Phnompenh cử 6 đại biểu, phía lực lượng chống đối gồm ba phái Campuchia Dân chủ (tức Khmer Đỏ), Ranaridh và Son Sann mỗi phái 2 đại biểu, tổng cộng 6 đại biểu. Nguyễn Văn Linh tỏ ý có thể tiếp thu phương án này của phía Trung Quốc; Đỗ Mười cho rằng bản thân Sihanouk cũng thuộc lực lượng chống đối, như vậy tỷ lệ hai bên là 6 so với 7, phía lực lượng chống đối nhiều hơn 1 ghế, dự đoán phía chính quyền Phnom Penh khó tiếp thu phương án này; Phạm Văn Đồng thì nói phương án của phía Trung Quốc đã không công bằng lại cũng không hợp lý. Cuối cùng phía Việt Nam đồng ý dựa vào phương án của phía Trung Quốc để làm công tác thuyết phục phía Phnom Penh.
Về mối quan hệ Trung Quốc – Việt Nam, hai bên đều có thái độ nhìn về phía trước, không rà lại các món nợ cũ. Lãnh đạo hai nước đều đồng ý dựa theo tinh thần “Kết thúc quá khứ, mở ra tương lai” viết một chương mới trong mối quan hệ Trung – Việt. Khi kết thúc cuộc gặp, lãnh đạo hai nước đã ký kết “Biên bản Hội đàm”. Tổng Bí thư Giang Trạch Dân còn ý vị sâu xa trích dẫn hai câu thơ của Giang Thủy, nhà thơ đời Thanh: “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, tương kiến nhất tiếu mẫn ân cừu [tạm dịch: Qua kiếp nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù]”. Tối hôm ấy Nguyễn Văn Linh xúc động viết bốn câu thơ: “Huynh đệ chi giao số đại truyền, oán hận khoảnh khắc hóa vân yên, tái tương phùng thời tiếu nhan khai, thiên tải tình nghị hựu trùng kiến.” [3]
Để bảo đảm cuộc gặp thành công, Tỉnh ủy Tứ Xuyên và Văn phòng Đối ngoại đã làm rất nhiều công việc tổ chức và chuẩn bị. Nghe nói họ đã phải đưa đi nơi khác tất cả các khách trọ ở nhà khách Kim Ngưu, để dành nơi này đón các vị khách Việt Nam ở trong hai ngày hội đàm. Đồng thời hai bên Trung Quốc – Việt Nam thương lượng giữ bí mật về cuộc hội đàm này, không phát bất cứ tin tức nào ra bên ngoài.
16 chữ vàng của mối quan hệ Trung Quốc -Việt Nam
Một năm sau cuộc gặp Thành Đô, tháng 11 năm 1991, tân Tổng Bí thư ĐCSVN Đỗ Mười và tân Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt thăm Trung Quốc. Lãnh đạo hai nước ra Thông cáo chung, tuyên bố thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung Quốc – Việt Nam.
Tháng 2-1999 lãnh đạo Trung Quốc – Việt Nam ra “Tuyên bố chung” xác định bộ khung phát triển mối quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, nói tóm tắt là 16 chữ “Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”. Các quan chức và học giả Việt Nam nói đây là “16 chữ vàng”.
Tháng 7 và tháng 11 năm 2005, lãnh đạo cấp cao hai nước Trung Quốc – Việt Nam đi thăm lẫn nhau, làm phong phú hơn nữa nội hàm của “16 chữ”, không ngừng nâng cao mối quan hệ láng giềng hữu hảo và hợp tác toàn diện lên mức độ mới, khiến cho hai quốc gia và nhân dân hai nước mãi mãi làm láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đánh dấu mối quan hệ ngoại giao hữu hảo Trung Quốc – Việt Nam được đẩy lên một chặng đường mới.
Nguồn: Tạp chí Trung Quốc 《党史纵横》“Đảng sử tung hoành” [4] bản điện tử ngày 26-8-2014.
__________________________
[1] Tác giả bài viết này có lẽ là Lý Gia Trung, từng 4 lần làm việc ở Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, lần cuối cùng làm Đại sứ. Lý học tiếng Pháp tại Trung Quốc, tiếng Việt tại ĐH Tổng hợp Hà Nội, là tác giả sách Hồ Chí Minh, một cuộc đời huyền thoại xuất bản năm 2011 ở Trung Quốc (ND).
[2] Bệnh Meniere là một rối loạn ở tai trong, gây ra chóng mặt và ù tai (ND).
[3] Chúng tôi đoán ông Nguyễn Văn Linh viết 4 câu này bằng tiếng Việt, đây chỉ là lời dịch của phía Trung Quốc “兄弟之交数代传,怨恨顷刻化云烟,再相逢时笑颜开,千载情谊又重建”. Dịch ngược lại tất nhiên không đúng với nguyên văn tiếng Việt. Tạm dịch ý: Tình anh em truyền bao đời, trong khoảnh khắc mọi oán hận tan thành mây khói, khi gặp nhau nở nụ cười, xây đắp lại tình hữu nghị muôn đời (ND).
[4] Tạp chí “Đảng sử tung hoành” ra đời năm 1988, do Phòng Nghiên cứu lịch sử đảng của Tỉnh ủy Liêu Ninh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy Liêu Ninh, Cục Lão cán bộ Tỉnh ủy Liêu Ninh phụ trách; tạp chí ra hàng tháng, có tính chất tổng hợp và thông tục, được phát hành công khai cho bạn đọc trong và ngoài Trung Quốc. (ND)

Dương Vũ – Ai đang làm khánh kiệt đất nước? (phần 6)

Dương Vũ
Dân Luận: Những thông tin trong bài viết này chúng tôi không có điều kiện để kiểm chứng do vậy xin bạn đọc Dân Luận hãy thận trọng khi sử dụng những thông tin được cung cấp ở đây.

Trước khi quay trở lại một số vấn đề liên quan đến ngân hàng và công an, xin thông tin về việc liên quan đến Cục Trưởng Tài Chính Bộ Quốc Phòng Trung Tướng Phạm Quang Vinh.
Sắp tới đây, Bộ Chính Trị sẽ nghe Phùng Quang Thanh báo cáo về việc bỏ trốn của Phạm Quang Vinh đến nay không hề thấy tăm hơi đâu đồng thời nghe báo cáo về việc thụt kẹt và lình xình tiền nong ở Cục Tài Chính. Tiền nong thanh toán đang là vấn đề căng thẳng trong quân đội. Các tư lệnh rất bực mình và căng thẳng vì tiền không được giải ngân. Việc xin tiền của các đơn vị như đi ăn xin. Nhiều tướng lĩnh phải thốt lên, đi lấy tiền nuôi quân bằng tiền của dân mà cứ như đi ăn xin và họ cảm thấy rất nhục nhã về việc này.

Tiền, vàng và ngân hàng

Sự việc liên quan đến cửa hàng vàng Hoàng Mai đã bộc lộ rõ bản chất ăn cướp của những kẻ mang danh công quyền.
Sự việc diễn ra ngày 24 tháng 4 thì trước đó ngày 22 tháng 4 công an đã đề xuất và ngày 23 tháng 4, chủ tịch Quận Bình Thạnh đã ký quyết định cho khám xét. Rồi thì họ cũng nặn ra cái gọi là nhân chứng Lê Tấn Hiệp nhưng camera lưu giữ hình ảnh chả có hình ảnh nào chứng minh cho hành vi này. Cũng chả có 100 USD nào cả. Cái mà người ta gọi là vật chứng 100 USD chính là tiền từ trong két sắt của bà Hoàng Mai mà công an bắt bà phải mở két khi bà từ ngoài đi về.
Rồi thì cả cái biên bản vi phạm cũng được lập ngày 19 tháng 5, tức sau gần 1 tháng mà chả có chữ ký của người vi phạm. Cái mà người ta gọi là người vi phạm cũng chả biết cái biên bản đó thế nào.
Rồi thì họ căn cứ theo các quy định pháp luật mà điều khoản áp dụng cao nhất trong nghị định 95/2011 NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 2020/2004 NĐ-CP cũng chỉ là phạt cho hành vi vi phạm hành chính trong trong lĩnh vực tiền tệ và hoat động ngân hàng, hành vi mua bán, thanh toán, cho vay ngoại tệ với nhau là từ 50-100 triệu thì họ phạt những 400 triệu đồng.
Một hình thức cố tình bao biện cho hành vi ăn cướp bất thành. Và có thể nói ngắn gọn là cướp bằng được.

Tại sao lại cố tình cướp như vậy?

Để chứng minh cho một quyết định nào đó thì người ta cố phải tìm ra những hành vi, việc làm nào đó chứng mình rằng, quyết định của họ là đúng đắn. Họ chứng mình ở hành vi mua bán ngoại tệ xong lại thu giữ vàng và muốn dằn mặt hệ thống buôn bán vàng trải dài khắp cả nước và thông điệp mà giới buôn vàng nhận thấy là nguy cơ bị cướp đang cận kề. Vi phạm buôn ngoại tệ (nếu có) mà lại đi khám và thu giữ vàng (sau đó buộc phải trả lại khi bị phanh phui).
Ở một đất nước mà vàng được coi là công cụ dự trữ an toàn và là ưu tiên số một cho sự tích cóp thì vàng chính là miếng mồi béo bở cho những hành vi cướp bóc.
Tập đoàn lợi ích của Nguyễn Văn Bình cố chứng minh rằng cần phải cấm buôn bán vàng tự do để ổn định thị trường thì lực lượng công an các cấp sẽ ra tay bảo vệ chính sách đó. Đó là cơ hội không thể tốt hơn cho đám sai nha công quyền tranh thủ cơ hội cướp của nhân dân.
Thực ra bà Hoàng Mai may mắn bởi truyền thông đã mang sự uất ức trong dân chúng về vụ việc đứng ra bảo vệ cho bà ấy chứ không thì bà ấy đã là nạn nhân xấu số bị dìm xác mà không hề thất tăm hơi. Công an thì rất thích sử dụng công cụ cấm đoán để ra tay trục lợi.
Ở vụ việc trên cần nhận thấy hai vấn đề. Vấn đề của việc thâu tóm lợi ích từ vàng và vấn đề trục lợi của công an.
Về việc thay đổi chính sách với vàng, Nguyễn Văn Bình đưa thương hiệu SJC thành vàng thương hiệu quốc gia. Rồi thì thâu tóm vàng trôi nổi, nhập lậu đem đóng dấu thì mỗi một lượng ăn ra 4 triệu đồng.
Ở đầu nhiệm kỳ, Nguyễn Văn Bình tuyên bố nếu chênh lệch vàng thế giới và trong nước trên 400 ngàn đồng/lượng là điều bất bình thường và Bình hứa đưa về dưới mức đó thì nay Bình Ruồi tuyên bố mức chênh hơn 4 triệu vnd/lượng là bình thường. Vậy thì tuyên bố tiền hậu bất nhất, nói ra rồi lại liếm của Bình có được cho là bình thường?
Với Bình, chả phải lo lắng điều gì. Bình tuyên bố: 500 đại biểu quốc hội không ai đủ trình độ để đối đáp với Bình về chính sách tiền tệ cả.
Về phía Chính Phủ, Thủ Tướng phải để Bình đọc và sửa tất cả những phần nào trong các báo cáo liên quan đến lĩnh vực tài chính tiền tệ.
Rồi đây, Thủ Tướng còn đề xuất đưa Bình lên cao hơn. Có 7 ứng viên cho việc lựa chọn 5 vị trí Phó Thủ Tướng nhiệm kỳ tới có tên Bình cùng những cái tên mới khác như Đinh La Thăng, Đinh Tiến Dũng và Trịnh Đình Dũng.
Việc kiểm soát vàng theo kiểu này chính xác là một hành vi cực kỳ mafia mà Báo Thanh Niên đã tố cáo để rồi Bình yêu cầu Bộ Công An khởi tố người viết và Báo Thanh Niên.
Thủ tướng còn quyết định cấm Hải Quan kiểm hóa việc nhập vàng của nhóm lợi ích này. Và không ai khác, Bình đưa anh ruột mình là Nguyễn Văn Thành tham gia vào lĩnh vực béo bở này.
Việc điều hành chính sách tiền tệ theo kiểu mafia của Bình bị Đặng Thị Hoàng Yến tố cáo trước Quốc Hội để rồi Yến phải trả giá cho sinh mạng chính trị của mình (mất chân đại biểu quốc hội) cũng như sự đe dọa đến cả sự an toàn tính mạng (phải trốn đi Mỹ).
Không phải Yến không có thông tin và cơ sở lý luận cho hành vi của Bình Ruồi.
Vào thời điểm khi còn là Thứ Trưởng Bộ Công An, theo sự chỉ đạo của anh Ba X, Phạm Minh Chính đã phải sang Nga điều đình để phía Nga bỏ qua cho hành vi rửa tiền lên đến 500 triệu USD của Bình mà phía Nga yêu cầu Việt Nam bắt và dẫn độ Bình về Nga. Chính phải sang Nga 2 lần mới thành công trong việc mặc cả với Nga bỏ qua cho hành vi của Bình.
Việc để nền kinh tế kiệt quệ như ngày hôm nay, nợ xấu cao, doanh nghiệp không tiếp cận nguồn vốn nhưng Bình vẫn phát biểu rất lạc quan và cho rằng mọi chuyện rất ổn. Khi bắt đầu kỳ họp Quốc Hội lần này, Bình tuyên bố tiền đồng ổn định và không có lý do điều chỉnh tỷ giá. Nhưng chỉ khi phiên chất vấn của Quốc Hội kết thúc, thậm chí cả khi Quốc Hội vẫn đang họp, Bình đã cho phá giá tiền đồng, điều chỉnh tỷ giá thay đổi. Đúng là hành động của Bình được mô tả như vừa nhổ ra đã liếm ngay tại chỗ. Và Bình không coi các đại biểu Quốc Hội là cái gì. Với Bình, 500 đại biểu Quốc Hội chỉ là nghị gật. Không có gì phải quan tâm.
Sở dĩ, Bình thoát được sự “sát hạch” của Quốc Hội bởi Bình và lớn hơn Bình là Ba X đã bắt Sinh Hùng làm “con tin”. Những sân sau của Sinh Hùng bị kiểm soát đặc biệt. Việc một lần nữa sử dụng con nuôi của Nguyễn Văn Hưởng là Hưng Tano để bắt Phúc Bảo Việt, một đệ tử của Sinh Hùng cho thấy, nhóm Bình và Ba X rất biết sử dụng các đòn “dưới thắt lưng”. Xin nhắc lại là Hưng Tano chính là kẻ đã hối lộ để cài bẫy vợ chồng Nguyễn Văn Chi (Trưởng Ban Kiểm Tra Trung Ương khóa trước) và vợ là Nguyễn Thị Thủy -(Phó Chủ tịch Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam) để mặc cả và thoát được vụ Vinashin trước đây.
Cũng như đối với Vinashin, Bình Ruồi giúp Ba X xóa nợ, dãn nợ và khoanh nợ cho Vinashin thì nay, một lần nữa, Ba X đã ký quyết định và giao Bình thực hiện việc xóa nợ 40 ngàn tỷ cho Vinalines. Thuyền trưởng X và thuyền phó Ruồi đã và đang từ từ xóa đi dấu vết của những con tàu nát mà các anh đã đánh đắm. Chúng tôi đã có trong tay văn bản này, một ngày không xa, chúng tôi sẽ thông tin đầy đủ để hầu quý vị.
Quay trở lại việc Bình nhởn nhơ với các chỉ trích của dư luận cũng như của Quốc Hội, Bình đã dùng một lãnh đạo cấp vụ/cục của Ngân Hàng Nhà Nước tên Hòa (hoặc Hà), một người gốc Thanh Hóa lobby Phạm Quang Nghị hòng dùng ảnh hưởng tới các thành viên Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Hà Nội nhưng cũng đồng thời thêm một phiếu ủng hộ cho việc trở thành Phó Thủ Tướng nhiệm kỳ tới. Không chế Sinh Hùng bằng việc kiểm soát các đệ tử cũng như nhận được sự ủng hộ của Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân.
Như vậy, về phía Bình Ruồi, việc sử dụng tối đa các mối quan hệ và bổ nhiệm những vị trí khác nhau của con cái lãnh đạo cao cấp hoặc có vai trò với Bình đã giúp Bình giải quyết mọi vấn đề.
Về phía Thanh Tra Chính Phủ, Bình bổ nhiệm vụ phó đối với Tạ Thành Long, con trai ông Tạ Hữu Thanh, cố Tổng Thanh Tra Chính Phủ cũng như Bình kiểm soát được khoản nợ khoảng 1000 tỷ của vợ Phó Tổng Thanh Tra Chính Phủ Ngô Văn Khánh đối với Ngân Hàng Nông Nghiệp giúp Bình có được sự an toàn đối với phía Thanh Tra.
Bình Ruồi bổ nhiệm con trai trưởng ban tổ chức trung ương Tô Huy Rứa là Tô Huy Vũ là Vụ phó một vụ của Ngân Hàng Nhà Nước. Con trai cố Bộ trưởng Công An Lê Minh Hương là Lê Minh Hưng làm Phó Thống Đốc. Con gái Đoàn Mạnh Giao làm Vụ trưởng Vụ Quan Hệ Quốc Tế. Con trai thứ trưởng Công An Bùi Nam cũng đang là nhân viên của Bình.
Nhưng đặc biệt có một chân bổ nhiệm chỉ để lo lobby báo chí. Đó là Phó Thống Đốc Đào Minh Tú. Tú chỉ lo mỗi việc take care và lobby báo chí. Cụ thể là việc dùng Truyền Hình Quốc Gia VTV làm công cụ tuyên truyền cho Bình. Cô Lê Bình, dưới sự bảo kê của Trần Bình Minh, Lê Bình là công cụ đắc lực của Bình Ruồi trong việc tuyên truyền đến quốc dân đồng bào những gì Bình muốn nói. Bình nói trên sóng quốc gia về một màu toàn hồng cho nền kinh tế thì chỉ vài ngày sau Bình Ruồi sẵn sàng làm ngược lại.
Bên cạnh việc hợp thức hóa buôn lậu vàng và độc quyền lợi ích nhóm về vàng, Bình còn có thế mạnh là rửa tiền và chuyển tiền ra nước ngoài. Trước đây, việc chuyển tiền qua biên giới, Bình làm việc có sự hợp tác với Tổng Cục 2. Tuy nhiên, gần đây, nhận thấy việc làm đó của Bình là vi phạm pháp luật thì TC2 đã dừng nhưng Bình thì không dừng. Có hai kênh chuyển tiền chính là Vietinbank và Bidv cũng một số đầu mối khác. Chả thế mà Công An Hà Nội đã từng bắt một lô hàng trong đó đựng 1 triệu USD của Techcombank chuyển qua đường hàng không nhưng rồi vụ việc rơi vào im lặng. Chả thế mà đại diện của các ngân hàng này ở nước ngoài sống như những ông Hoàng bà Chúa một cách xa hoa tại thủ đô của các nước tư bản lớn. Rồi những dòng tiền này lại quay trở lại Việt Nam mua các tài sản mà theo chỉ đạo của anh Ba X là phải cổ phần hóa càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt. Và một ngày không xa, tài sản thuộc sở hữu nhà nước sẽ không còn gì cả, không cánh mà bay.

Vấn đề thứ hai là vấn đề liên quan đến vai trò của Công An

Bình làm được và tồn tại được là có sự tiếp tay và trục lợi của những sai nha thích dựa vào những yếu kém và kẽ hở của luật pháp. Tất nhiên sự đồng lòng bảo vệ nhau của cả hệ thống công an.
Nếu như BBC đưa ra thông tin liên quan đến một trợ lý mà ai cũng hiểu là nhắm đến Bộ Trưởng Công An Trần Đại Quang thì thay vì đứng ra công bố rõ ràng và minh bạch thông tin, Trần Đại Quang cho khởi tố cả cơ quan truyền thông nước ngoài là BBC. Công An rất thích dùng khởi tố làm công cụ của trấn áp những ý kiến nào ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Rồi thì việc Báo Pháp Luật Xã Hội tường thuật lại phiên tòa xử Bầu Kiên trích dẫn lời các luật sư nói Gtel, một công ty của Bộ Công An cũng làm ăn không phép. Ngay lập tức cũng bị khởi tố. Nhưng liệu cứ khởi tố như vậy có bịt được miệng dư luận khi đưa những thông tin tham ô tham nhũng và làm ăn bậy bạ của họ ra ngoài ánh sáng không? Dù họ có bất chấp và sẵn sang ngồi xổm lên dư luận thì thông tin minh bạch và sẵn sang chấp nhận gian nan của những người yêu nước tiến bộ sẽ lật rõ bộ mặt của những kẻ đang đục khoét và phá hoại đất nước.
Và người dân càng hiểu rõ thêm bộ mặt thật của những kẻ đang đứng đầu trong lực lượng công an.
Nếu như người dân chỉ cần động đến cái lông chân của một kẻ vô danh tiểu tốt trong ngành công an thì sẽ phải trả giá bằng nhiều năm tù. Nhưng công an cướp bóc, giết người vẫn sẽ được bảo vệ. Nhiều người dân bị chết oan trong đồn công an mà chả ai phải chịu trách nhiệm.
Ngày 12.6.2014, liên ngành Tòa Án, Viện Kiểm Sát và Công An họp án về việc bắt hay không bắt 2 cán bộ công an đã làm sai lệch hồ sơ vụ án liên quan đến hoa hậu quý bà Trương Thị Tuyết Nga của Bệnh Viện Vũ Anh vì lừa đảo. Hai viên công an này một ăn 10 tỷ và một ăn 1,7 tỷ của Tuyết Nga để làm sai lệch vụ án giúp Tuyết Nga không bị bắt. Vụ việc bị phanh phui và 3 bên họp để quyết định có bắt hay không.
Thứ trưởng Công An Lê Quý Vương phát biểu là ai thì cũng cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật thì Phan Văn Vĩnh đứng lên phản đối, không cho bắt.
Vĩnh chột nói: tôi và anh Vương như nhau, cùng được Thủ Tướng quyết định bổ nhiệm. Anh Vương không hơn gì tôi. Anh Vương phát biểu là ý kiến cá nhân anh Vương. Tôi là Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Cảnh Sát Phòng Chống Tội Phạm, đứng đầu lực lượng cảnh sát và là thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra. Ý kiến của tôi là ý kiến của người đứng đầu và đại diện cho cơ quan cảnh sát điều tra. Tôi phản đối anh Vương và tôi không đồng ý bắt.
Với cách làm như Vĩnh chột, sẽ không có công an nào bị bắt cả.
Mọi án từ, Vĩnh chột báo cáo thẳng Đại Quang và cả hai quyết định mọi chuyện.
Trần Đại Quang vô hiệu hóa các thứ trưởng cho dù họ đều là đệ tử của anh Ba X. Đại Quang sử dụng hai Tổng Cục Trưởng và là thủ trưởng hai cơ quan điều tra là Hoàng Kông Tư và Phan Văn Vĩnh. Đại Quang trấn áp mọi thành phần bằng công cụ truy tố mà hai cơ quan này thực hiện. Phía Viện Kiểm Sát đã có Bùi Mạnh Cường và Trần Công Phàn cùng dân Nam Định hỗ trợ.
Đại Quang đang Nam Định hóa những vị trí chủ chốt của lực lượng điều tra.
Trần Đại Quang đuổi Chánh văn phòng cơ quan cảnh sát điều tra, một cục trưởng giỏi là Lê Đình Nhường về Thái Bình để thay thế bằng một người Nam Định là phó giám đốc công an Nam Định tên Hưng.
Đại Quang giao cho Cục Trưởng Cảnh Sát Kinh Tế Nguyễn Đức Thịnh mọi công việc liên quan đến kinh tế, chức vụ và tham ô tham nhũng đều do Cục này làm mà không giao cho Cục phòng chống tham nhũng của thiếu tướng Trần Đăng Yến làm. (Thiếu tướng Yến là người Lạng Sơn, không phải Nam Định).
Nhưng một điều cực kỳ nguy hiểm là Đại Quang hành chính hóa C55, Văn Phòng cơ quan cảnh sát quốc tế Interpol. Chuyển toàn bộ đơn vị này về V12 (Cục Quan hệ Quốc Tế). Tức là Việt Nam chỉ tham gia phần việc có liên quan đến tội phạm quốc tế ở mức như mọi giao lưu quốc tế bình thường mà không phải là một cơ quan đối tranh phòng chống tội phạm. C55 bị trả thù vì việc C55 đã có văn bản trả lời của phía Mỹ về việc con rể của Ba X là doanh nhân Henry Nguyen (Nguyễn Bảo Hoàng) không chuyển một đồng xu nào về nước và số tiền 3000 tỷ trong Bản Việt là của Nguyễn Thanh Phượng chứ không phải của Bảo Hoàng.
Một phó giám đốc khác của Nam Đinh là Hoàng Thọ Mạnh được điều về Bộ.
Cố vấn cho Trần Đại Quang về truyền thông là Hồng Vinh, cựu phó ban tuyên giáo, cựu tổng biên tập báo Nhân Dân, một người Nam Định. Hồng Vinh viết hoặc ít nhất là biên tập cho các phát biểu của Đại Quang. Đồng thời trợ giúp cho Quang có một người Nam Định khác là Đinh Thế Huynh.
Nhưng tất cả những cái đó để làm gì ngoài mục đích đảm bảo an toàn cho mọi hành vi cướp bóc của phe nhóm này mà Quang có phần và có trách nhiệm bảo vệ?
Đại Quang có một đệ tử tên Lịch ở Bắc Giang. Lịch có giấy phép khai thác than ở Bắc Giang. Nhưng ai cũng biết, ở Bắc Giang có than nhưng chưa khai thác công nghiệp được. Vì thế Lịch thu gom than thổ phỉ để bán cho Trung Quốc.
Trước đây, việc thu phí các tuyến đường cao tốc do tập đoàn Hải Châu thu. Đây là tập đoàn có quan hệ với gia đình Ba X.
Gần đây việc thu này thuộc về công ty Yên Khánh. Chủ công ty là em con dì ruột Trần Đại Quang tên là Hạp. Công ty này thu tuyến Cầu Giẽ Ninh Bình, tuyến Thành Phố Hồ Chí Minh – Trung Lương.
Đây là một miếng mồi béo bở. Và vì là thu thuê trên tuyến Cầu Giẽ Ninh Bình mà Hạp chỉ đạo rút riêng ra ngoài sổ sách 200 triệu đồng mỗi ngày và xóa toàn bộ giữ liệu lưu trữ. Chả thế mà chỉ sau 2 tháng, Hạp đã mua hẳn hai chiếc xe Bentley cho hai bố con. Giá mỗi chiếc cũng hơn 10 tỷ.
Cũng vì thấy sự béo bở mà Tô Dũng, em ruột Tô Lâm cũng đòi thu phí tuyến Hà Nội Lào Cai. (Tô Dũng là chủ của công ty Xuân Cầu, một đại lý buôn xe máy Piaggio). Tô Dũng cũng là người đứng tên cho Tô Lâm với dự án đất 1200ha ở Văn Giang, bên cạnh Ecopark.
Hệ thống công an thì tha hóa. Luôn mang chờ mọi cơ hội để cướp bóc. Đại Quang và dàn lãnh đạo các cấp không lo làm việc, bảo vệ dân chúng, bảo vệ pháp luật mà chỉ lo cướp bóc. Có vấn đề gì lại đổ lỗi cho Việt Tân.
Thiệt hại cho vụ đập phá gần đây mà nhà đầu tư thiệt hại và chính phủ Việt Nam phải đền là 20 ngàn tỷ ở Bình Dương, 10 ngàn tỷ ở Đồng Nai và Vũng Áng. Ở các nước văn minh, Bộ Trưởng Công An, các thứ trưởng, giám đốc công an các tỉnh trên phải bị ít nhất là mất chức cho đến phải ra tòa. Nhưng Công An đã kịp đổ cho Việt Tân. Họ kết tội 3 người của Việt Tân đã đến gặp luật sư Nguyễn Văn Đài ở Hà Nội để lấy 300USD mua cờ, in truyền đơn và xúi giục gây bạo loạn ở các khu công nghiệp.
Khi xảy ra, công an các địa phương này không hề có một hành động bảo vệ hay ngăn cản sự phá hoại nào.
Với 3 người, sử dụng ngân sách 300 đô la Mỹ, gây thiệt hại 30 ngàn tỷ (1.5 tỷ đô la Mỹ) trên ít nhất 3 tỉnh (Bình Dương, Đồng Nai và Hà Tĩnh), chắc Việt Tân và 3 thành viên kia hẳn là siêu việt nếu như không muốn nói là trí tưởng tượng của lực lượng an ninh Việt Nam quá vỹ đại.
Trước khi kết thúc chúng tôi xin thông tin thêm về công ty sổ xố điện toán, nơi mà mỗi năm bỏ túi vài trăm triệu đô la đó là của Nguyễn Thanh Phượng, Hưng Tano và của Hoa Lâm Bình Định (tức Trịnh Thị Lâm).
Nhưng chúng ta cần biết, việc thông tin để dân chúng biết rõ bản chất thật của những kẻ đang làm khánh kiệt đất nước và cùng nhau đứng lên vạch mặt, tố cáo và phải tiêu diệt chúng. Chúng ta không thể mong chờ thứ lý thuyết suông kiểu như phê và tự phê hòng mong chúng tự sửa chữa. Chúng ta không thể mong chờ, dưới sự dẫn dắt của những kẻ lú lẫn mà có thể tiêu diệt được những con sâu bọ. Càng có cơ hội, càng quyền lực thì chúng càng tha hóa.
Vì thế, chúng ta biết sự thật và phải cùng nhau tự giải phóng khỏi áp bức của những kẻ đang ngày đêm phá hoại đất nước này.
Dương Vũ

Ai đang làm khánh kiệt đất nước (phần 5)

Dân Luận: Những thông tin trong bài viết này chúng tôi không có điều kiện để kiểm chứng do vậy xin bạn đọc Dân Luận hãy thận trọng khi sử dụng những thông tin được cung cấp ở đây.
Trả lời bình luận của một độc giả[*] cho biết thêm thông tin về một số Thứ Trưởng Công An. Nay xin thông tin thêm như sau.
Đang lấy ý kiến nhưng toàn bộ thành viên Bộ Chính Trị không ai có ý kiến nào khác về việc tặng thưởng Huân Chương Quân Công hạng nhất cho Tướng Tô Lâm, Thứ Trưởng Bộ Công An. Mà thành tích đặc biệt để tặng thưởng Huân Chương Quân Công cho Tướng Tô Lâm là thành tích giải quyết vụ Vinashin và vụ Văn Giang.
Vụ Vinashin có thực sự là vụ án mà Tướng Lâm xứng đáng được tặng thưởng?
Nếu xét về mặt ý đồ và mục đích, Tướng Lâm đã hoàn thành xuất sắc đối với vụ này nhưng không phải đứng trên góc độ của công lý và sự thật mà là việc dẹp tan mọi hệ quả mà vụ án này có thể gây ra.
Vinashin là vụ án kinh tế điển hình với mô hình kinh tế nhà nước không hiệu quả. Là biểu tượng của sự phá hoại và tham nhũng của của Việt Nam.
Với thiệt hại khoảng 86 ngàn tỷ (hơn 4 tỷ USD) tại thời điểm phanh phui và đến giờ là hơn 128 ngàn tỷ (hơn 6 tỷ USD). Kẻ trực tiếp Phạm Thanh Bình cùng đồng bọn chỉ bị xử lý xử lý với tội danh liên quan đến rất ít (1000 tỷ) còn con số to đùng của sự thất thoát không được nhắc đến. Cao nhất chỉ tù có thời hạn. So với Vinalines thì thất thoát hơn rất nhiều, thế mà Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc tử hình. Phạm Thanh Bình, Trần Quang Vũ chắc vài năm nữa lại ra. Người đứng đầu Chính Phủ Nguyễn Tấn Dũng đứng trước quốc hội nói XIN LỖI một câu thế là xong.
Với thành tích dẹp như vậy, Tướng Lâm xứng đáng được tặng thưởng quá chứ?
Nhân đây, xin nhắc lại về việc vụ Vinashin bị chìm xuồng như thế nào?
Tình thế rất căng thẳng trước đại hội và sự nghiệp của Nguyễn Tấn Dũng căng thẳng vì liên quan đến Vinashin.
Khi đó, vận mệnh Nguyễn Tấn Dũng nằm trong tay trưởng ban kiểm tra trung ương Nguyễn Văn Chi. Ông Chi khi đó rất tự tin. Thậm chí còn có niềm tin có thể làm Chủ Tịch Nước vì là người miền trung.
Song, tình thế đã thay đổi bởi bàn tay của bộ sậu của Anh Ba X ở Bộ Công An.
Nguyễn Văn Hưởng sử dụng người con nuôi của mình là Hưng Tano hối lộ bà Nguyễn Thị Thủy, Phó Chủ Tịch Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, vợ Ông Chi. Chụp ảnh, quay film, ghi âm làm bằng chứng.
Đang cuộc họp Bộ Chính Trị, Ba X dúi vào gầm bàn cho Chi bản báo cáo. Mặt Nguyễn Văn Chi tái dại. Thế cờ đảo người. Tham gia phi vụ này có Nguyễn Văn Hưởng, Tô Lâm, Phạm Minh Chính và Bùi Nam.
Nguyễn Tấn Dũng thoát hiểm. Nguyễn Văn Chi về vườn.
Hưng Tano còn được sử dụng thêm một lần nữa gần đây khi Hưng tố cáo Phúc (Bảo Việt) để đánh vào nhóm Phúc và Thắm Ocean, cũng tức là đánh vào Sinh Hùng. Phúc bị bắt. Thắm thì bị câu lưu không thể hoàn toàn tự do.
Còn trong phi vụ Văn Giang tháng 4 năm 2012, Tướng Lâm đã huy động lực lượng đông đảo tới 2000 công an phục vụ mục đích giải phóng mặt bằng cho dự án khu đô thị Ecopark mà thực chất là cướp đất của dân 3 xã Phụng Công, Cửu Cao và Xuân Quan. Nhưng có ai biết được rằng, cạnh đó, Nguyễn Văn Thông (chủ tịch Hưng Yên) đã cấp cho Tô Lâm hơn 1 ngàn hecta, rộng gấp đôi diện tích của Ecopark. Khu này đứng tên em ruột Tô Lâm là Tô Dũng. Việc sẵn sàng sử dụng lực lượng hùng hậu để đàn áp và cướp của dân nằm trong ý đồ nhiều mục đích mà Lâm và băng nhóm quan chức Hưng Yên muốn thực hiện.
Nay, Khoa béo, một đệ tử của Đại Quang và cả của Tô Lâm được đưa về làm Phó Giám Đốc Công An Hưng Yên cũng là để đảm bảo quyền lợi của Lâm ở đây.
Tô Lâm sinh năm 1957, quê Xuân Cầu, một làng của Huyện Mỹ Văn (Mỹ Hào và Văn Lâm cũ), tỉnh Hưng Yên. Sở dĩ có tên là Lâm bởi lúc đẻ Lâm là đê Văn Lâm vỡ.
Tô Lâm là con trai ông Tô Quyền, nguyên Cục Trưởng Cảnh Sát Giao Thông, nguyên giám đốc Công An Hải Hưng.
Tô Lâm thành đạt bởi sự năng động của mình hơn là lý do con trai ông Cục Trưởng.
Khi đi học từ chính trị hay ngoại ngữ, Tô Lâm luôn chọn học với các ủy viên trung ương.
Tô Lâm nhận con cháu lãnh đạo về đơn vị mình dù năng lực thế nào không quan trọng. Trước có Phan Minh Hoàn (Hoàn ty), con ông Sáu Khải. Trần Quốc Liêm, em vợ Ba X. Con trai giám đốc công an Tuyên Quang, con trai giám đốc Công An Ninh Bình, con gái giám đốc Công An Hà Nam, con trai chủ tịch Sơn La… Nhận về chỉ để làm cảnh.
Cuộc đời may mắn và thành đạt như vậy, nhưng Tô Lâm vẫn có một nỗi đau. Đó là việc, Lâm bị vợ cũ (tên Loan) bỏ để đi theo người tên Đức, nhân viên quèn ở Tổng Cục Du Lịch).
Công Lý có thể chỉ là một diễn viên hài nhưng Thiên Lý sẽ không tha thứ cho kẻ dám đàn áp những người đồng hương, những người đồng bào để cướp đất và đẩy họ vào con đường khốn khó.
Tuy không được đánh giá nhiều về độ mưu mẹo so vớ Tướng Nguyễn Văn Hưởng, nhưng Tướng Lâm khôn khéo và ít kẻ thù hơn Tướng Hưởng.
Tô Lâm còn có công, cùng với Trần Đại Quang đã không có hành động gì khi xảy ra bạo động đập phá ở Bình Dương, Đồng Nai và Hà Tĩnh ngoài việc đổ lỗi cho Việt Tân gây ra bạo loạn.
Với lực lượng an ninh hùng hậu, ko có việc gì khác ngoài đàn áp dân oan mất đất và mất tự do.
Nếu ở xã hội văn minh, Tô Lâm và Trần Đại Quang ít nhất bị cách chức cho đến bị truy tố về tội thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng.
Một đất nước thiệt hại vài tỷ đô Thủ Tướng chỉ xin lỗi, doanh nghiêp bị phá hoại lãnh đạo Bộ Công An coi như không phải việc của mình. Giặc vào tận nhà, Bộ Trưởng Quốc Phòng bảo không có gì. Dân mình kể cũng lành nhất thế giới.
Quay trở về với vụ Vinashin, phải nói tới Phạm Minh Chính và Bùi Nam, Phạm Minh Chính quê Thanh Hóa. Chính trưởng thành nhanh sau khi làm thư ký cho một người đồng hương khác là Hoàng Ngọc Nhất. Nhất ngã ngựa vụ Năm Cam nhưng Chính không sao.
Chính được Ba X đưa về Quảng Ninh còn nhằm giúp giải quyết với những vấn đề liên quan đến Trung Quốc. Chính cho Trung Quốc thuê đất lên đến 120 năm. Dâng các mỏ cho Trung Quốc.
Vợ Chính, ngoài thời gian mỗi tuần xuống Quảng Ninh một lần để “thu tô” thì có mặt ở nhà Anh Ba X, giải quyết mọi công việc hậu cần cho gia đình anh Ba X từ thông cống trở đi.
Anh Ba X đang chuẩn bị đưa Chính về lại Bộ Công An thay Trần Đại Quang sẽ làm một vị trí khác, có thể là Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn.
Khi đó sẽ là canh bạc tồi với Bùi Nam và Tô Lâm. Những ứng cử viên tiềm năng cho vị trí Bộ Trưởng Công An khi Đại Quang thay đổi.
Về phần liên quan đến Trung Quốc. Trung Quốc thuê đất dọc biên giới của 16 tỉnh.
23 trong tổng số 31 dự án nhiệt điện ở Việt Nam của Trung Quốc mà trong vòng 4 năm tới không có thiết bị thay thế. Một ngày đẹp trời, họ đồng loạt đóng điện, Việt Nam chìm trong bóng tối.
80% mỏ của Việt Nam nằm trong tay Trung Quốc. Các dự án trên 50 triệu đô, Tổng Thầu là Trung Quốc.
Phó Thủ tướng điều hành kinh tế ngành là người Trung Quốc.
Tổng điều hành an ninh quân đội, tướng một mắt Lê Đức Anh do Trung Quốc chăm sóc sức khỏe.
Việt Nam chắc còn mỗi cái tên chưa thuộc về Trung Quốc.
Về phần ngân hàng, xin nhắc lại rằng, ngoài Ngân Hàng Nông Nghiệp đã tan nát, các ngân hàng quốc doanh khác như Vietcombank, Vietinbank và Bidv đang được Nguyễn Văn Bình tẩu tán. Sau khi thâu tóm xong sẽ đến lượt Vietnam Airlines, Vinaphone, mobile phone…
Và cái chân sắp tới của Bình ruồi sẽ là Phó Thủ Tướng thay Vũ Văn Ninh. Tuy nhiên, Bình quê Phú Thọ đang chiến đấu với Bộ Trưởng Tài Chính Đinh Tiến Dũng. Dũng được Bùi Nam, dân Ninh Bình giúp đỡ đấu lại Bình trong vụ này. Bình tố Dũng để cho nước ngoài làm xổ số điện toán. Đầu tư 200 triệu đô nhưng năm đầu tiên đã thu được 600 triệu, lãi 400 triệu đô và các năm sau lãi khủng hơn nhiều. Đây là lĩnh vực trong nước làm được, cần gì cho nước ngoài vào.
Nếu có điều kiện, chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin về những nhân vật tiếp theo.
Dương Vũ
[*] Viết trên Dân Luận: “Cám ơn bác Dương Vũ về những thông tin rất hữu ích. Kính mong bác cho mọi người biết thêm đôi dòng về các nhân vật có khả năng sẽ trở thành “trụ cột” trong ngành CA trong thời gian tới như Bùi Nam, Tô Lâm, Minh Chính… Xin chân thành cảm ơn”